Vừa qua trong bối cảnh giãn cách xã hội, ban tổ chức “Giải thưởng Sinh viên Nội thất Việt Nam 2019”

Chất lượng giáo dục, về căn bản, phụ thuộc vào 3 yếu tố chính là: Nội dung phương pháp, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất kỹ thuật. Ở các nước có nền giáo dục phát triển, các cơ sở giáo dục để được thành lập hoặc đánh giá xếp hạng đều cần phải trả lời được 3 câu hỏi mang tính điều kiện: Thứ nhất – “Học cái gì và học như thế nào?”; thứ hai – “Ai dạy?” và thứ ba – “Dạy ở đâu và bằng gì?”.

Về bản chất, đó là những điều kiện quyết định chất lượng giáo dục của cơ sở giáo dục, nói rộng hơn, cũng là điều kiện quyết định chất lượng của một nền giáo dục quốc gia.

Ba yếu tố đó nằm trong trong mối quan hệ tương hỗ, tác động lẫn nhau để có thể phát huy những giá trị tốt nhất trong vai trò của mình đối với chất lượng giáo dục. Ví dụ, nội dung, phương pháp có thể được coi như vai trò trung tâm khởi xướng, nhưng khả năng thực thi và thành công lại phụ thuộc vào đội ngũ giáo viên với điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật. Về phần mình, hai yếu tố sau cũng lần lượt đóng vai trò kiểm định lại tính khả thi của yếu tố đầu.
Cơ sở vật chất kỹ thuật trường học bao gồm tất cả những yêu tố liên quan đến những điều kiện vật chất để đảm bảo cho hoạt động dạy và học theo nghĩa rộng trong không gian và thời gian. Trong đó, bao trùm lên tất cả là vỏ kiến trúc – Không gian học đường, thực hiện sứ mệnh căn bản của cơ sở vật chất trường học tác động đến chất lượng giáo dục như một điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy và học.

Đề án “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo”, một cuộc cải cách quan trọng và sâu rộng của nền giáo dục nước nhà, được phát động từ năm 2013, đặt ra những yêu cầu đổi mới quan trọng từ nhận thức về triết lý giáo dục đến những mục tiêu cụ thể với những định hướng rõ ràng và các khung giải pháp. Trong đó có khung giải pháp về điều kiện thực hiện – giải pháp tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục.

Hoạt động dạy và học được đổi mới theo nội dung chương trình và phương pháp đổi mới. Vậy những nội dung nào của chương trình và phương pháp tác động đến không gian kiến trúc trường học, làm thay đổi từ mô hình trường đến các không gian chức năng? Bài viết này sẽ tập trung vào những yếu tố biến động của không gian kiến trúc trường học trước những yêu cầu của đề án “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” nhằm giải đáp cho câu hỏi trên.

Đổi mới giáo dục, những yêu cầu mới với không gian kiến trúc học đường

Từ sau khi giành được độc lập tháng 9 năm 1945, nền giáo dục cách mạng đã tiến hành 3 cuộc cải cách giáo dục (theo công bố chính thức) vào những năm 1950, 1956 và 1981. Trong đó, cải cách năm 1981 là cải cách được thực hiện trên phạm vi toàn quốc, sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất. Bên cạnh đó, cũng ghi nhận những chủ trương và quyết sách lớn có ảnh hưởng sâu rộng trong các thiết chế về giáo dục như: Học 2 buổi/ ngày ở bậc tiểu học (từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước) và THCS (từ giữa những năm 2000); phân ban ở bậc THPT (thí điểm), ghép và tách trường tiểu học với THCS, thay sách giáo khoa và thiết bị dạy học… Đáng chú ý là không gian kiến trúc trường học lại dường như đứng ngoài các cuộc cải cách bên trong đó, hoặc là tham gia một cách hết sức thụ động theo dạng “tăng cường cơ sở vật chất”. Những ngôi trường truyền thống với bề dày lịch sử cùng các ngôi trường mới được thay đổi về hình thức nhưng với cấu trúc không gian được giữ nguyên. Đó chỉ là những thay đổi về lượng chứ không phải thay đổi về chất, và đó cũng chính là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng của các cuộc cải cách giáo dục nói riêng. Trên thực tế, hoạt động dạy và học như một yếu tố công năng làm nên tính đặc thù của kiến trúc trường học. Chính những thay đổi của hoạt động này tác động trước hết vào cấu trúc không gian của ngôi trường theo những mức độ khác nhau.

Nghiên cứu thiết kế trường học cho thấy có 3 cấp độ mà không gian kiến trúc trường học cần đạt tới trong mối tương quan với những yếu tố làm nên chất lượng giáo dục là:

  1. Phù hợp: Đáp ứng những yêu cầu của hoạt động dạy và học;
  2. Khuyến khích: Tạo nên môi trường kích thích sáng tạo, cải tiến phương pháp;
  3. Dự báo: Thông qua tính linh hoạt của các giải pháp biến đổi không gian, đáp ứng những biến động của mô hình trường trong tương lai.

Khi các hoạt động “Dạy” và “Học” cùng phương pháp đổi mới được diễn ra trong mọi diện tích chức năng của ngôi trường, có nghĩa rằng tất cả những diện tích chức năng này cần được xem xét ở cả 3 cấp độ trên.

Lớp học kê theo nhóm, không có bục giảng

Những tác động chính và các giải pháp định hướng

Khái niệm phát triển năng lực người học, lấy học sinh làm trung tâm là một trong những yêu cầu đổi mới hàng đầu, xuyên suốt từ thiết kế nội dung chương trình đến phương pháp dạy và học – Từ đó đặt ra những yêu cầu với các không gian chức năng trong trường học. Mô hình thày giảng trò nghe, thày hỏi và cho phép, trò trả lời định hình cho không gian lớp học chữ nhật dài với bục giảng cao, tạo ra sự kiểm soát tuyệt đối của người thày đối với trò (Trong lịch sử, mô hình lớp học này được ghi nhận điểm xuất phát từ những lớp học trong các trường dòng, nơi các cha xứ đóng vai trò người thày khai sáng kiến thức). Các phương pháp Dạy và Học được đổi mới và khuyến khích đổi mới nhằm khai thác và phát huy tối đa năng lực của học sinh, nhân vật chính của lớp học, trong quá trình tiếp thu kiến thức. Mô hình giao tiếp một chiều trước đây được chuyển đổi thành giao tiếp đa chiều trong không gian lớp học. Các hình thức học theo nhóm, tự do phát biểu, thay đổi các chỗ ngồi cố định trong các giờ học khác nhau trở thành những thay đổi cơ bản tác động đến không gian lớp học truyền thống. Nói một cách khác, chỗ học thuộc sở hữu của học sinh, trước đây vốn cần cố định, nay cần một không gian có thể thay đổi, linh hoạt lắp ghép thành nhóm với quy mô khác nhau. Trong lý thuyết về modul không gian tầng bậc trong trường học, chỗ học là modul bậc 1, tập hợp để cấu thành modul bậc 2 – lớp học. Những thay đổi cần có của không gian chỗ học đặt ra yêu cầu thay đổi cần đáp ứng cho không gian lớp học, cụ thể về diện tích và kích thước hình học để tạo ra một không gian có tính linh hoạt cao nhất cho một sĩ số học sinh thích hợp nhất. Chính vì vậy, những lớp học có kích thước tiệm cận với hình vuông cùng các vách ngăn cách âm di động trở thành một giải pháp hữu dụng nhất. Bên cạnh đó, việc bỏ đi bục giảng cũng như việc sử dụng các mảng tường thành các bảng viết bổ sung để tăng khả năng giao tiếp cũng là một giải pháp được áp dụng trong mô hình lớp học mới.

Không gian linh hoạt trong mô hình trường học tương lai ở Anh

Việc “Tăng thời lượng học thực hành, phát huy sáng tạo” trong chương trình và các phương pháp Dạy và Học kèm theo đã làm thay đổi tỷ trọng các lớp chuyên dụng cũng như hệ thống phòng học thí nghiệm trong cấu trúc diện tích chức năng của trường. Phòng học bộ môn bắt đầu được khởi tạo và phát triển từ mô hình phân ban thí điểm, nơi công nghệ dạy và học được thiết kế theo mô hình học sinh động, lớp học tĩnh tương tự như trên bậc đại học. Tuy nhiên, cùng với thời lượng chương trình mới, phương pháp mới (thực hiện các bài thực hành thí nghiệm theo nhóm) cũng như việc tích hợp môn học cao ở lớp dưới và phân hóa dần ở lớp trên và việc ứng dụng công nghệ Dạy và Học theo chương trình STEM – trang bị kiến thức tổng hợp về Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ thuật (Engineering) và Toán học (Math) – phòng học bộ môn và phòng thí nghiệm cũng đứng trước những yêu cầu mới về chức năng, tổ chức không gian, quy mô và kích cỡ với hệ thống hạ tầng tương ứng.

Yêu cầu “Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin” là định đề cho các giải pháp thiết kế dạng phòng học chuyên biệt cho các nhóm thay vì mô hình cabin, đồng thời là khả năng tạo điều kiện kết nối học tập mọi nơi, mọi chỗ trong khuôn viên, cũng như các điều kiện tổ chức các lớp học, studio online và các lớp học thông minh với các phương tiện công nghệ thông tin. Tuy nhiên, xét trên những tác động của yếu tố tâm sinh lý học đường, các diện tích chức năng này cần được thiết kế như những lớp học đặc thù, được sử dụng theo thời lượng của chương trình học.

Đẩy mạnh “Hội nhập quốc tế về giáo dục” thể hiện rõ trong những yêu cầu đổi mới nội dung chương trình và thay đổi về nhận thức trong phương pháp áp dụng, bắt kịp các nền giáo dục tiên tiến đồng thời cũng chính là việc xác lập những cơ sở lý luận và thực tiễn từ những kinh nghiệm tổ chức không gian kiến trúc trường học quốc tế. Trong đó, các mô hình Trường học bền vững, Trường học xanh, Trường học mở, Trường học của tương lai là những xu hướng được quan tâm hàng đầu để nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Những điểm trên cho thấy, bài toán Tổ chức không gian kiến trúc trường học trước những tác động của đổi mới nội dung, phương pháp có thể được nhìn nhận như việc giải quyết sự tương thích của cái vỏ kiến trúc với cái lõi hoạt động sư phạm bên trong một cách toàn diện. Có thể nói, toàn bộ hệ modul không gian tầng bậc trong trường học chỗ học – lớp học – nhà học – khu chức năng – tổng thể trường đều chịu ảnh hưởng của sự tác động này. Khái niệm không gian lớp học được mở rộng ngoài phạm vi vách ngăn che. Sự thay đổi bổ sung các cấu trúc chức năng mới cũng làm thay đổi cấu trúc không gian toàn trường. Hành lang, cầu thang không chỉ được thiết kế với chức năng giao thông hay liên kết. Không gian sân vườn cũng không chỉ được quy hoạch trong phạm vi ngoài trời. Tính linh hoạt và đa năng hóa các không gian cần được vận dụng ở mọi nơi mọi chỗ. Trên cơ sở đặc điểm của từng cấp học trong yêu cầu của nội dung chương trình, tính chất, quy mô các cấu trúc chức năng được tổ chức thành những mô hình cấp học. Với mô hình trường đa cấp, mô hình được tổ chức trên cơ sở xác lập cái “chung” và cái “riêng” của quy mô liên cấp. Và sau hết, yếu tố vùng miền được tính đến trong các giải pháp theo các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và sinh khí hậu bản địa.

Kết luận

Trường học bền vững trước hết được thiết kế dựa trên 4 tiêu chí quan trọng là An toàn, Thân thiện, Tiện nghi và Môi trường nhằm tạo lập một không gian học đường mà ở đó hoạt động Dạy và Học được diễn ra trong những điều kiện tốt nhất. Bên cạnh những yếu tố tác động vốn có đối với kiến trúc trường học nói chung, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục từ nội dung chương trình đến phương pháp đặt ra những yêu cầu có tính quyết định đến mô hình trường học trong hiện tại và một tương lai gần. Điều này đòi hỏi một cuộc đại phẫu tổng thể trên cơ sở nghiên cứu những tác động từ nội dung chương trình và phương pháp được đổi mới, soát xét mức độ phù hợp để đề xuất thay thế, bổ sung và làm mới. Đồng thời, nó cũng cần được đổi mới một cách căn bản và toàn diện từ trong nhận thức, phương pháp và giải pháp đồng bộ từ tiêu chuẩn thiết kế đến quy hoạch mạng lưới trường. Đây cũng chính là đổi mới không gian kiến trúc trường học, từ nhận thức, cách tiếp cận đến các giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nước nhà.

TS. TS Trần Thanh Bình
Nguyên Viện trưởng Viện NCTK Trường học
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2020)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *